Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Giúp mẹ tăng tiết sữa với cốm lợi sữa

Nhiều mẹ ắt hẳn đã biết về cây chùm ngây, một loài cây được mệnh danh là “siêu thực phẩm của thế kỉ 21”. Hàm lượng dinh dưỡng trong chùm ngây rất cao, có thể kể đến như hàm lượng vitamin C trong chùm ngây cao gấp 7 lần cam; hàm lượng vitamin A cao gấp 10 lần so với cà rốt; Can xi cao gấp 14 lần so với sữa, cao gấp 9 lần so với sữa chua; kali cao gấp 9 lần so với chuối và sắt cao gấp 25 lần so với rau chân vịt…

Cây chùm ngây

Chùm ngây cung cấp nhiều chất dinh dưỡng, bên cạnh đó, đối với phụ nữ sau sinh, chùm ngây còn giúp tăng Prolactin – chìa khóa tạo sữa trong cơ thể mẹ. Chưa kể đến các chất dinh dưỡng trong chùm ngây hoàn toàn tự nhiên, lành tính, an toàn cho bà mẹ đang cho con bú. Chính vì vậy, một sản phẩm từ chùm ngây dành riêng cho phụ nữ sau sinh giúp tăng tiết sữa, bổ sung dưỡng chất đã ra đời.

Cốm lợi sữa Moringa – sản phẩm giúp mẹ tăng tiết sữa, kháng khuẩn và bổ máu

Cốm lợi sữa Moringa là sản phẩm tinh túy nhất được chiết xuất từ lá chùm ngây, nhưng vẫn đảm bảo giữ lại toàn vẹn những dưỡng chất quý giá với hàm lượng cao các chất từ tự nhiên, giúp bổ sung dưỡng chất, tăng cường sức khỏe cho mẹ sau sinh để hồi sức, tăng lượng tiết sữa.

Kết quả đánh giá lâm sàng cho thấy Nồng độ Prolactin sau 2 ngày sử dụng bột lá Moringa (chùm ngây) cao hơn gấp 1.54 lần so với nhóm các mẹ không sử dụng. Đến tháng thứ 4, nhóm các mẹ sử dụng bột lá Moringa có nồng độ Prolactin cao gấp 5.8 lần so với các mẹ không được sử dụng.

Các bé được mẹ sử dụng bột lá Moringa cho bú có cân nặng cao gấp 1.3 lần so với nhóm các mẹ không được sử dụng bột lá Moringa. Tình trạng thiếu sữa của mẹ sẽ được cải thiện chỉ sau tuần đầu sử dụng.

Kết quả đánh giá lâm sàng cốm lợi sữa chùm ngây Moringa

Cốm lợi sữa Moringa còn giúp tái tạo tế bào, tăng cường sức đề kháng, giúp bảo vệ cơ thể mẹ và chống lại sự tấn công của vi khuẩn, nâng cao khả năng chống lại virus, tăng cường chức năng của tế bào bạch cầu trong hệ miễn dịch.

Hàm lượng sắt cao trong chùm ngây giúp mẹ tái tạo máu và tăng lượng sắt trong sữa mẹ, từ đó cải thiện tình trạng thiếu máu ở mẹ và bổ sung sắt cho bé.

Mọi chi tiết thắc mắc về sản phẩm, vui lòng liên hệ Công ty TNHH Văn hóa ẩm thực và Dược phẩm CVC Việt Nam

- Website sản phẩm: http://moringacvc.vn/

- Facebook https://bit.ly/2JV6MDd

- Hotline: 1900 2627

Số GPQC: 01298/2017/ATTP-XNQC

Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

Viêm não Nhật Bản – Phòng bệnh hơn chữa bệnh

Vì sao mắc bệnh?

Chim và lợn là khởi đầu các ổ chứa virus VNNB. Dù nhiễm virus, song lợn và chim không bị bệnh mà đóng vai trò là khâu trung gian (kho chứa), duy trì virus trong thiên nhiên.

Theo đó, muỗi hút máu của lợn, sau đó đốt sang người sẽ truyền virus sang người. Đến nay, đây là con đường duy nhất lây nhiễm VNNB. Hiện nay vẫn chưa ghi nhận ca bệnh nào lây truyền từ người sang người. Có nhiều loài muỗi có khả năng truyền bệnh, nhưng chủ yếu là hai loài: Culex Tritaeniorhynchus và Culex vishnui. Hai loài này hoạt động mạnh và hút máu vào lúc chập choạng tối, nên nguy cơ nhiễm bệnh cũng chính ở thời điểm này.

Từ tháng 5 đến tháng 10 - là mùa cây ăn quả phát triển, mưa nhiều, nhiệt độ cao, muỗi tăng nên đây là thời điểm cho những trận dịch lớn. Ở vùng nông thôn thường xảy ra dịch hơn thành thị, nhất là những vùng trồng trọt và chăn nuôi (nuôi heo). Đỉnh cao của dịch bệnh là tháng 6 và tháng 7. Từ tháng 10 trở đi, mật độ muỗi giảm xuống và dịch kết thúc.

Viêm não Nhật BảnSơ đồ lây truyền viêm não Nhật Bản từ động vật sang người.

Diễn biến của bệnh

Sau 4-8 ngày ủ bệnh, bệnh nhân có các triệu chứng “giống cảm cúm” như sốt nhẹ, sổ mũi, tiêu chảy, run, nhức đầu, nôn mửa... trẻ em thường kém ăn, sau đó tới giai đoạn phát bệnh.

Giai đoạn khởi phát: Bệnh khởi đầu với biểu hiện sốt và thường sốt rất cao 39-40ºC. Bệnh thường xảy ra đột ngột, có trẻ đang khỏe mạnh bỗng dưng sốt cao, co giật, dẫn đến lờ đờ, hôn mê trong 1-3 ngày. Diễn biến bệnh nặng lên rất nhanh. Trong thời kỳ này, bệnh còn có các biểu hiện kèm theo như rét run, đau đầu, mệt lả, buồn nôn.

Ngay trong 1 -2 ngày đầu, bệnh nhi đã xuất hiện cứng gáy, tăng trương lực cơ, rối loạn sự vận động nhãn cầu, lú lẫn hoặc mất ý thức. Ở một số trẻ nhỏ tuổi, ngoài sốt cao có thể thấy đi ngoài phân lỏng, đau bụng, nôn.

Giai đoạn toàn phát: Khi virus xâm nhập vào tế bào não tuỷ gây huỷ hoại các tế bào thần kinh. Lúc này các triệu chứng không giảm mà tăng dần. Các triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật cũng tăng lên như vã nhiều mồ hôi, da lúc đỏ, lúc tái, rối loạn nhịp thở và tăng tiết trong lòng khí quản, mạch thường nhanh và yếu.

Giai đoạn này diễn ra ngắn, bệnh nhân nhanh chóng rơi vào tình trạng hôn mê sâu với rối loạn các chức năng sống. Những bệnh nhân vượt qua được thời kỳ này thì tiên lượng tốt hơn.

Giai đoạn lui bệnh: Từ tuần thứ hai, bệnh nhân đỡ dần, nhiệt độ giảm từ sốt cao xuống sốt nhẹ.

Vào khoảng ngày thứ 10 trở đi, nhiệt độ bệnh nhân trở về bình thường nếu không có bội nhiễm vi khuẩn khác. Bệnh nhân hôn mê dần dần tỉnh, không còn những cơn co cứng, hết nôn và đau đầu.

Khi mắc VNNB, khoảng 30% bệnh nhân nhập viện bị tử vong. Từ 30-50% số bệnh nhân sống sót bị các di chứng thần kinh và tâm thần nặng nề. Trong trường hợp được điều trị kịp thời và tiến triển tốt, các triệu chứng sẽ giảm dần và người bệnh có thể khỏi hẳn.

Điều trị như thế nào?

Cho đến nay, chưa có một phương pháp điều trị đặc hiệu nào cho bệnh này. Chủ yếu là điều trị triệu chứng, nâng đỡ cho bệnh nhân trong các đơn vị hồi sức cấp cứu (chống sốt, chống co giật, chống phù não, trợ tim mạch, hô hấp, chống rối loạn thần kinh thực vật, chăm sóc tích cực, dinh dưỡng tốt...).

Nguyên tắc buộc phải tuân thủ là tất cả các bệnh nhân VNNB đều phải được điều trị tại bệnh viện. Phải đưa trẻ đến viện ngay lập tức nếu sốt cao quá 12 giờ liên tục hoặc có các dấu hiệu như nôn, cứng gáy, rối loạn ý thức...

Việc nhập viện muộn hay sớm sẽ đóng vai trò rất lớn trong việc hạn chế tỉ lệ tử vong và tỉ lệ di chứng khi mắc VNNB. Chính vì thế, nếu có các dấu hiệu nghi ngờ bị VNNB (nhất là đối với người sống trong vùng dịch tễ và vào mùa dịch), bệnh nhân phải được nhập viện càng sớm càng tốt. Việc chẩn đoán bệnh (xét nghiệm máu và dịch não - tủy, huyết thanh học, điện não đồ...) đều phải được tiến hành tại các cơ sở y tế chuyên khoa.

Phòng bệnh bằng cách nào?

Như trên đã nói, cho đến nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh VNNB, mà hậu quả do bệnh gây ra lại rất nặng nề. Chính vì vậy, biện pháp phòng bệnh luôn được đề cao trong cộng đồng. Mỗi người dân cần phải có ý thức phòng bệnh, nhất là trong mùa dịch để bảo vệ chính sức khỏe của mình và bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng.

Viêm não Nhật BảnTiêm vắc xin là biện pháp hiệu quả phòng bệnh viêm não Nhật Bản

Phòng bệnhkhông đặc hiệu: Trên phương diện toàn xã hội, phòng bệnh VNNB phải là công tác tổng lực bao gồm việc phòng chống tại các ổ dịch và vùng ven bằng cách phun thuốc diệt bọ gậy, giải quyết nước ứ đọng, phân, rác...

Về phương diện cá nhân, thực hiện tốt vệ sinh môi trường, giữ gìn nhà ở, cần tránh muỗi đốt bằng cách ngủ màn, sử dụng hương diệt muỗi hoặc thuốc xịt ngoài da chống muỗi đốt, gắn lưới cho tất cả các cửa nhà, cửa sổ. Khi sinh hoạt bên ngoài vào ban đêm, phải mặc quần áo dài, đi tất. Cần thông quang hoặc lấp các cống rãnh, ao vũng tù đọng quanh nhà, vệ sinh chuồng trại gia súc, gia cầm sạch sẽ để hạn chế muỗi, nên để chuồng trại xa nhà. Không cho trẻ em chơi gần chuồng gia súc để phòng muỗi đốt.

Phòng bệnh đặc hiệu: Đến nay, cách phòng bệnh duy nhất là tiêm phòng vắc-xin. Việt Nam đã đưa vắc-xin ngừa VNNB vào chương trình tiêm chủng mở rộng hoàn toàn miễn phí cho trẻ dưới 15 tuổi. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả phòng bệnh, trẻ cần tiêm vắc-xin đủ 3 liều. Mũi 1 lúc 1 tuổi, mũi 2 cách mũi 1 từ 7-14 ngày. Mũi 3 cách mũi 2 một năm.

Nếu chỉ tiêm 1 mũi thì không có hiệu lực bảo vệ. Tiêm đủ 2 mũi hiệu lực bảo vệ đạt trên 80%; tiêm đủ 3 mũi thì đạt 90-95% trong khoảng 3 năm. Do đó cứ 3-4 năm tiêm nhắc lại một lần cho đến khi trẻ qua 15 tuổi. Tác dụng phụ trầm trọng của chủng ngừa hiếm khi xảy ra. Những phản ứng nhẹ khá thường gặp (sưng chỗ chích, sốt, nhức đầu).

BS.Nguyễn Văn Liêm

Dòng chảy xiết ven bờ

Thỉnh thoảng, chúng ta nghe chuyện thương tâm về những du khách bị cuốn trôi ra biển, mà nguyên nhân là do dòng chảy xiết ven bờ (thường gọi là dòng chảy xa bờ) gây ra.

Đặc điểm của dòng chảy xa bờ

Dòng chảy xa bờ là một bộ phận của dòng tổng hợp, với hướng chảy tách bờ ra khơi. Dòng chảy này được hình thành và luôn biến động trong vùng đới sóng đổ sát bờ và phụ thuộc chủ yếu vào các điều kiện của địa hình bờ, đáy và sóng biển khi có điều kiện thời tiết thay đổi. Khi sóng đánh và nước biển được đưa liên tục vào bờ thì chúng tập hợp lại thành dòng đi ngược ra biển.

Theo các nhà nghiên cứu, khi có sự thay đổi đột ngột của sóng biển thì vận tốc của dòng chảy xa bờ có thể đạt tới 2,5m/s (tốc độ của dòng chảy trung bình chỉ vào khoảng 0,5m/s). Dòng chảy xa bờ thường hẹp, có chiều ngang khoảng từ 1 - 3m. Tuy nhiên, có khi dòng chảy xa bờ rộng đến cả chục mét. Dòng chảy xa bờ có thể cực kỳ nguy hiểm vì nó kéo người biết bơi ra xa bờ làm cho người biết bơi kiệt sức rồi chết đuối do cố bơi ngược dòng chảy xa bờ. Dòng này thường ổn định, nhưng cũng có khi thay đổi liên tục theo từng giờ. Dòng chảy xa bờ là được xem là một trong những nguy hiểm hàng đầu ở vùng ven bờ và nó được ví như một dòng sông nhỏ sẽ cuốn tất cả những gì rơi vào nó đi ra xa bờ.

Cánh nhận biết dòng chảy xa bờ

Trước khi xuống biển, chúng ta nên dành khoảng 5 - 10 phút để nhận dạng dòng chảy xa bờ ở bãi biển mà mình sắp xuống tắm. Mặt nước nơi có dòng chảy xa bờ thường lặng, ít sóng nên làm cho chúng ta hiểu lầm đó là nơi an toàn. Khi người tắm biển bơi vào dòng chảy xa bờ đó, ngay lập tức họ sẽ có thể bị cuốn trôi ra biển. Do đó, khi tắm biển, chúng ta cần nhớ rằng vùng nước lặng không có nghĩa là vùng nước an toàn.

Trong hình ảnh bên ta thấy, nơi có sóng bạc đầu là nơi dòng nước đi từ biển vào gần bờ. Nếu chúng ta tắm biển nơi có sóng bạc đầu thì chúng ta sẽ được sóng đánh đưa vào bờ. Tuy nhiên, nếu chúng ta di chuyển vào tắm chỗ lặng sóng là chúng ta rơi vào dòng chảy xa bờ. Dòng sông nhỏ này sẽ lập tức kéo chúng ta ra xa.

Chúng ta có thể nhận ra dòng chảy xa bờ nhờ những đặc điểm sau đây: dòng này có màu sậm hơn vì nơi đó nước sâu hơn; mặt nước lặng và thường có sóng nhỏ; đôi khi chúng ta có thể thấy các mảnh vỡ hay bọt nước nổi trên mặt dòng chảy và trôi ra biển.

Cách xử lý khi rơi vào dòng chảy xa bờ

Các khảo sát cho thấy dòng chảy xa bờ không kéo người ta xuống nước mà chỉ kéo người bơi ra xa bờ và thường sẽ đưa người bơi vào vùng có sóng bạc đầu, sau đó sóng sẽ đưa người đó trở lại vào bờ. Tuy nhiên, người ta thường chết đuối khi rơi vào dòng chảy xa bờ vì bản năng tự nhiên khiến người biết bơi bơi ngược dòng chảy xa bờ để vào bờ khiến người đó mau chóng kiệt sức. Bên cạnh đó, sự hoảng loạn khiến người bơi không còn khả năng phán đoán chính xác.

Vì vậy, cách xử lý khi rơi vào vùng có dòng chảy này: trước hết, hãy bình tĩnh, đồng thời không cố bơi ngược dòng chảy xa bờ. Đối với người bơi giỏi: bình tĩnh và hãy bơi song song với bờ biển, thường sẽ hướng đến chỗ vùng có sóng bạc đầu và nhờ sóng đưa bạn hoặc tự bơi trở lại vào bờ. Đối với người bơi yếu: bất cứ khi nào bạn thấy không thể chạm bờ biển hoặc thấy đuối sức, hãy giơ tay lên ra hiệu, bình tĩnh, thả nổi để giữ sức và gọi trợ giúp. Nếu dòng chảy xa bờ yếu đi, cố gắng bơi song song với bờ biển để đến chỗ có sóng bạc đầu nhờ sóng đưa bạn vào bờ.

Như vậy, dòng chảy xa bờ có thể hình thành ở một số khu vực ven biển, nhất là một số các bãi tắm của nước ta. Nó ảnh hưởng lớn đến các hoạt động du lịch tắm biển trong khu vực này. Trước khi tắm biển, chúng ta cần tìm hiểu độ an toàn của bãi biển mà chúng ta sắp xuống tắm và chú ý đến đặc điểm của loại dòng chảy xa bờ để nhận biết và có phương án xử lý mỗi khi rơi vào vùng hoạt động của nó. n

Trong thời gian qua, ở một số bãi tắm ở Đà Nẵng, Bãi Dài (Cam Ranh), Vũng Tàu, Cửa Lò… đã có người đi tắm biển bị chết đuối hay bị cuốn ra xa bờ, bởi tại các bãi tắm này theo khảo sát của các nhà chuyên môn thỉnh thoảng xuất hiện dòng chảy xa bờ. Vì vậy, việc tìm ra nguyên nhân, đặc điểm của nó để du khách phòng tránh rủi ro là điều cần thiết.

ThS. NGUYỄN THANH ĐIỆP

Bạn biết gì về bệnh đau dạ dày?

Hiện nay đau dạ dày là bệnh khá phổ biến trong nhân dân và đang có chiều hướng gia tăng. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng người lớn mắc bệnh nhiều hơn trẻ em. Tùy theo các vị trí của viêm và loét mà có các tên gọi là viêm dạ dày, viêm hang vị, viêm tâm vị, viêm bờ cong nhỏ hoặc loét bờ cong nhỏ, loét hang vị, loét tiền môn vị, viêm tá tràng, loét tá tràng, viêm loét cả dạ dày - tá tràng, ung thư dạ dày.

Đặc điểm giải phẫu sinh lý của dạ dày

Về giải phẫu, dạ dày là túi đựng thức ăn nối thực quản với tá tràng. Dung lượng dạ dày có thể chứa được 1-1,5 lít, gồm 2 phần: phần đứng là thân dạ dày, phần ngang là hang vị. Cấu tạo thành dạ dày gồm 4 lớp, từ ngoài vào trong gồm: thanh mạc; lớp cơ: gồm 3 lớp nhỏ (cơ dọc, cơ vòng và cơ chéo); hạ niêm mạc; niêm mạc: phân cách với lớp hạ niêm mạc bởi lớp cơ trơn.

Cấu tạo dạ dày

Mạch máu của dạ dày: dạ dày được nuôi dưỡng bởi động mạch từ thân tạng tới tạo nên hai vòng cung: vòng cung nhỏ dọc theo bờ cong nhỏ; vòng cung lớn dọc theo bờ cong lớn. Thần kinh chi phối dạ dày: là đám rối Meissner và Auerbach. Thần kinh phó giao cảm cholinergic (là dây thần kinh số X) và thần kinh giao cảm adrenergic (thần kinh tạng).

Chức năng sinh lý dạ dày

Chức năng vận động: trương lực dạ dày, áp lực trong lòng dạ dày khoảng 8-10 cm H2O, có áp lực là nhờ sự co thường xuyên của lớp cơ dạ dày. Khi dạ dày đầy, trương lực giảm đi chút ít, khi dạ dày vơi trương lực tăng lên, tăng lên cao nhất khi dạ dày rỗng.

Nhu động của dạ dày: khi thức ăn vào dạ dày thì 5-10 phút sau dạ dày mới có nhu động, nhu động bắt đầu từ phần giữa của thân dạ dày, càng đến gần tâm vị nhu động càng mạnh và sâu. Cứ 10-15 giây có 1 sóng nhu động. Kết quả co bóp của dạ dày là nhào trộn thức ăn với dịch vị, nghiền nhỏ thức ăn và tống xuống ruột.

Chức năng bài tiết: mỗi ngày dạ dày bài tiết 1-1,5 lít dịch vị, protein của huyết tương (đặc biệt là albumin, globulin miễn dịch), các enzym pepsinozen và pepsin, glycoprotein, yếu tố nội sinh (glycoprotein chứa ít glucid) và axid.

Chức năng tiêu hóa: HCl có tác dụng hoạt hoá các men tiêu hoá, điều chỉnh đóng mở môn vị và kích thích bài tiết dịch tụy. Chất nhầy có nhiệm vụ bảo vệ niêm mạc khỏi sự tấn công của chính dịch vị. Pepsinogen với sự có mặt của HCl sẽ phân chia protein thành các polypeptid và làm đông sữa. Yếu tố nội sinh có tác dụng làm hấp thu vitamin B12. Dạ dày cũng sản xuất secretin, một nội tiết tố kích thích bài tiết dịch tụy.

Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân gây đau dạ dày trong đó thuyết về thần kinh thuyết phục hơn cả nên đã tồn tại trong nhiều thập niên. Song hành với thuyết thần kinh, là giả thuyết về vi khuẩn tồn tại ở niêm mạc và dưới niêm mạc dạ dày gây bệnh. Cho đến năm 1983, hai nhà khoa học người Australia (Warren và Marshall) mới thành công trong việc nuôi cấy, phân lập để xác định được loại vi khuẩn gây viêm loét dạ dày - tá tràng và công bố cho toàn thế giới biết kẻ thù nguy hiểm gây bệnh lý viêm loét dạ dày - tá tràng là loại vi khuẩn Helicobacter pylori (viết tắt là HP).

Triệu chứng của bệnh dạ dày

Triệu chứng cơ năng: Đau bụng vùng thượng vị: đau có chu kỳ (loét dạ dày, loét tá tràng), đau không chu kỳ (đau do viêm dạ dày-tá tràng hoặc ung thư dạ dày). Đau có lan xuyên (loét dạ dày lan lên trên và sang trái), loét hành tá tràng (lan ra sau lưng và sang phải). Đau liên quan đến bữa ăn: loét dạ dày đau khi no, loét hành tá tràng đau khi đói, ăn vào hết đau. Kém ăn là một triệu chứng không đặc hiệu (ăn mất ngon, ăn ít hơn), cũng có thể do nguyên nhân khác như bệnh gan, bệnh thận... Ợ là biểu hiện của rối loạn vận động dạ dày, do lỗ tâm vị không đóng kín. Thức ăn lưu lại trong dạ dày quá lâu nên sinh hơi. Thức ăn và hơi có thể lên tận trên họng mà người có bệnh cảm thấy vị chua. Ợ có thể gặp ở các bệnh dạ dày: viêm loét dạ dày tá tràng; hẹp môn vị; rối loạn chức năng cơ vòng tâm vị. Ợ có thể gặp ở các bệnh ngoài dạ dày như suy gan do bất cứ nguyên nhân gì. Hội chứng bán tắc ruột. Nôn và buồn nôn: các bệnh của dạ dày gây nôn và buồn nôn gồm viêm dạ dày; đợt tiến triển của loét dạ dày-tá tràng; ung thư dạ dày; hẹp môn vị do bất cứ nguyên nhân gì; chảy máu dạ dày; các bệnh ngoài dạ dày như viêm não, u não… Chảy máu dạ dày: có thể là một triệu chứng, có thể là một biến chứng của viêm dạ dày cấp do thuốc; ung thư dạ dày; loét dạ dày-tá tràng; u lành dạ dày (polip, u mạch); hội chứng Mallory- Weiss; tăng áp lực tĩnh mạch cửa.

Triệu chứng thực thể

Trong cơn đau loét dạ dày-tá tràng thăm khám sẽ thấy: điểm thượng vị ấn đau (loét dạ dày); điểm môn vị-hành tá tràng ấn đau (loét hành tá tràng); dấu hiệu óc ách lúc đói (+), dấu hiệu Bouveret (+): gặp trong hẹp môn vị; gõ thượng vị đau: gặp trong viêm dạ dày…

Các triệu chứng xét nghiệm.

Chụp Xquang dạ dày-tá tràng thấy một số hình ảnh bệnh lý như: thay đổi niêm mạc: to, nhỏ hoặc không đều; thay đổi ở thành dạ dày: có ổ đọng thuốc ở bờ cong nhỏ, bờ cong lớn, có đoạn cứng, hành tá tràng biến dạng hình quân bài “nhép”; rối loạn vận động: co thắt, xoắn; rối loạn trương lực: tăng hoặc giảm; thoát vị hoành; các khối u dạ dày (hình khuyết).

Nội soi dạ dày tá tràng: là xét nghiệm đầu tiên giúp nhìn trực tiếp các tổn thương thực quản, dạ dày, tá tràng phát hiện sớm các tổn thương nhỏ. Nội soi cho biết có trào ngược dịch mật không hoặc trào ngược dạ dày-thực quản. Qua nội soi có thể điều trị bệnh như cầm máu, tiêm xơ, thắt…

Sinh thiết và xét nghiệm tế bào: tìm tế bào trong dịch vị; sinh thiết trong khi soi: chỗ nghi ngờ có tổn thương để làm mô bệnh học, tế bào học để giúp cho chẩn đoán chính xác. Chẩn đoán viêm dạ dày cấp, mạn, chẩn đoán các khối u, tìm vi khuẩn Helicobacter pylori bằng các test Urease, xét nghiệm mô bệnh học…

Thăm dò chức năng dạ dày: lấy dịch vị bình thường, khối lượng lúc đói không quá 100ml; màu sắc: trong, hoặc không màu; độ quánh: hơi quánh dính và dính do có chất nhầy; cặn thức ăn: sau một đêm cặn thức ăn còn lại rất ít hoặc không còn.

Định lượng bài tiết acid ngay trong dạ dày: là một phương pháp sinh lý nhất, cho phép đánh giá các nội tiết tố và thời gian lưu thức ăn trong dạ dày. Ngoài ra còn xét nghiệm dịch vị dựa trên các phương pháp kích thích tiết acid với histamin, pentagastrin…

Cần phân biệt với một số bệnh

Các bệnh khi đau vùng thượng vị có thể nhầm với viêm loét dạ dày - tá tràng như viêm tụy, viêm đường dẫn mật, sỏi đường dẫn mật; viêm ruột thừa ở những giờ đầu cũng có thể đau thượng vị; ngộ độc thức ăn gây viêm dạ dày cấp tính trong một vài giờ đầu. Đau bụng âm ỉ, đi ngoài phân đen có thể nhầm với bệnh giun móc, khi đó cần xét nghiệm tìm trứng giun móc.

Làm gì khi bị đau dạ dày?

Bệnh nhân không nên tự điều trị mà phải đi khám bệnh để được thầy thuốc khám cẩn thận, cho làm các xét nghiệm như chụp dạ dày, nội soi dạ dày…để chẩn đoán xác định bệnh. Đối với người có hội chứng dạ dày – tá tràng nên kiêng tuyệt đối rượu, bia, chất chua cay và thuốc lá, thuốc lào, các chất gây kích thích khác như nước trà đặc, cà phê, vì những chất này có khả năng làm tổn thương niêm mạc dạ dày.

Ăn uống thế nào?

Ăn uống hợp vệ sinh là khâu quan trọng nhất. Tránh các thức ăn kích thích niêm mạc dạ dày như rượu, bia, nước ngọt có ga, các loại thức ăn chua cay như canh chua, dưa muối, cà muối, cam, chanh, dứa, khế, sấu…, tiêu, ớt, tỏi…

Các loại thực phẩm nên dùng: trứng, sữa, gạo nếp, … Uống sữa với chế độ hợp lí sẽ có tác dụng tốt đối với bệnh nhân đau dạ dày.

Hạn chế ăn các món nướng, chiên rán, các đồ ăn nhanh để phòng bệnh ung thư dạ dày.

Vấn đề điều trị bệnh đau dạ dày

Việc điều trị viêm loét dạ dày - tá tràng dựa trên cơ chế tiêu diệt vi khuẩn HP, sử dụng thuốc chữa bệnh dạ dày gồm các nhóm: kháng sinh, chống tăng tiết dịch vị và bao phủ niêm mạc tránh tác dụng của dịch vị... Hiện nay, vấn đề kháng thuốc của HP đang có chiều hướng gia tăng và thật sự gây khó khăn cho việc điều trị. Nhiều bệnh nhân sau khi điều trị vẫn còn có kết quả HP dương tính làm cho họ rất hoang mang. Những trường hợp kháng thuốc, thầy thuốc bắt buộc phải phối hợp thêm nhiều kháng sinh sẽ làm gia tăng tác dụng phụ và làm cho chi phí điều trị cao hơn. Vì vậy để hạn chế vi khuẩn kháng thuốc, bệnh nhân đau dạ dày và mọi người không nên sử dụng thuốc kháng sinh bừa bãi mà chỉ dùng thuốc kháng sinh theo chỉ định của bác sĩ.

Đối với bệnh ung thư dạ dày cần phát hiện sớm để phẫu thuật loại bỏ khối ung thư. Nếu để muộn việc điều trị thường không có kết quả tốt, bệnh nhân có thể tử vong trong thời gian ngắn.

BS. Phạm Văn Thân

Những thắc mắc thường gặp về sốt rét

Bệnh lưu hành địa phương, trong những điều kiện thuận lợi có thể gây thành dịch, hiện chưa có vắc-xin phòng bệnh, có thuốc điều trị đặc hiệu và có thể phòng chống được. Dưới đây là lời giải đáp mà độc giả thường thắc mắc về căn bệnh này.

Do muỗi đốt truyền ký sinh trùng sốt rét từ người bệnh sang người lành. Không phải do ma thiêng nước độc. Bệnh sốt rét là bệnh truyền nhiễm do 5 loài ký sinh trùng Plasmodium gây nên gồm Plasmodium falciparum, Plasmodium vivax, Plasmodium malariae, Plasmodium ovale và Plasmodium knowlesi. Bệnh lây truyền chủ yếu là do muỗi Anopheles. Ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) gây miễn dịch đặc hiệu nhưng không bền vững. Bệnh lưu hành địa phương, trong những điều kiện thuận lợi có thể gây thành dịch, hiện chưa có vắc-xin phòng bệnh, có thuốc điều trị đặc hiệu và có thể phòng chống được. Ở nước ta hiện nay, bệnh lưu hành chủ yếu ở miền Trung Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ. KSTSR đã kháng với hầu hết các thuốc đang sử dụng, trong đó có thuốc artemisinin và dẫn chất. Nhiều trường hợp mắc bệnh sốt rét ngoại lai do đi làm việc, công tác, du lịch ở các quốc gia có sốt rét lưu hành về.

Quá trình lây nhiễm bệnh sốt rét.

Quá trình lây nhiễm bệnh sốt rét.

Triệu chứng của bệnh sốt rét

Cơn sốt rét điển hình: rét run, nóng, toát mồ hôi. Cơn sốt rét không điền hình: người thấy ơn ớn, gai gai rét, mệt mỏi, nhức đầu, ngáp vặt.

Trường hợp sốt rét lâm sàng phải có đủ 4 tiêu chuẩn: Sốt, có triệu chứng điển hình của cơn sốt rét: rét run, sốt và vã mồ hôi. Hoặc có triệu chứng không điển hình của cơn sốt rét: sốt không thành cơn (người bệnh thấy ớn lạnh, gai rét) hoặc sốt cao liên tục, sốt dao động. Hoặc có sốt trong 3 ngày gần đây; Không tìm thấy các nguyên nhân gây sốt khác; Đang ở hoặc đã đến vùng sốt rét lưu hành trong thời gian ít nhất 14 ngày hoặc có tiền sử mắc sốt rét trong vòng 2 năm gần đây; Có đáp ứng với thuốc điều trị sốt rét.

Các thể lâm sàng:

Sốt rét chưa biến chứng (sốt rét thường): Là trường hợp bệnh sốt rét mà không có dấu hiệu đe dọa tính mạng người bệnh. Chẩn đoán dựa vào 3 yếu tố: dịch tễ, triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm.

Dịch tễ: đang ở hoặc đã đến vùng sốt rét lưu hành hoặc có tiền sử sốt rét gần đây.

Triệu chứng lâm sàng: Cơn sốt điển hình có 3 giai đoạn: rét run - sốt - vã mồ hôi.

Cơn sốt không điển hình như: sốt không thành cơn, ớn lạnh, gai rét (hay gặp ở người sống lâu trong vùng sốt rét lưu hành), sốt liên tục hoặc dao động (hay gặp ở trẻ em, người bệnh bị sốt rét lần đầu).

Những dấu hiệu khác: thiếu máu, lách to, gan to...

Xét nghiệm: xét nghiệm máu có ký sinh trùng sốt rét thể vô tính, hoặc xét nghiệm chẩn đoán nhanh phát hiện kháng nguyên sốt rét hoặc kỹ thuật PCR dương tính. Nơi không có kính hiển vi phải lấy lam máu gửi đến điểm kính gần nhất.

Sốt rét biến chứng/ác tính: Trường hợp sốt rét ác tính là sốt rét có biến chứng đe dọa tính mạng người bệnh. Sốt rét ác tính thường xảy ra trên những người bệnh nhiễm P. falciparum hoặc nhiễm phối hợp có P. falciparum. Các trường hợp nhiễm P. vivax hoặc P. knowlesi đơn thuần cũng có thể gây sốt rét ác tính, đặc biệt ở các vùng kháng với chloroquin.

Các dấu hiệu dự báo sốt rét ác tính

Khi bị sốt rét ác tính bệnh nhân thường có các biểu hiện rối loạn ý thức nhẹ, thoáng qua (li bì, cuồng sảng, vật vã...). Sốt cao liên tục. Rối loạn tiêu hóa: nôn, tiêu chảy nhiều lần trong ngày, đau bụng cấp, bệnh nhân thường bị đau đầu dữ dội. Thiếu máu nặng: da xanh, niêm mạc nhợt. Một số biểu hiện thường gặp trong sốt rét ác tính ở trẻ em và phụ nữ có thai.

Nằm màn tẩm hóa chất diệt muỗi sốt rét

Nằm màn tẩm hóa chất diệt muỗi sốt rét cả màn lành lẫn màn rách (thủng không quá 10% diện tích màn) vẫn có hiệu quả tốt phòng chống muỗi sốt rét. Các hóa chất này có khả năng diệt và xua muỗi rất tốt, khi muỗi vào gặp màn tẩm hóa chất diệt muỗi, muỗi sẽ bị chết hay bị đẩy đi xa. Do đó màn tẩm hóa chất diệt muỗi bảo vệ người không cho muỗi đến đốt truyền bệnh sốt rét cho người.

Đây là biện pháp đơn giản, chống muỗi đốt bảo vệ cá nhân cao. Nhiều người lo ngại về việc hóa chất diệt muỗi sốt rét tẩm màn hại tới sức khỏe con người. Tuy nhiên, hóa chất diệt muỗi sốt rét là một chất được chiết xuất từ hoa cúc, nó có khả năng diệt muỗi tốt, nhưng không độc hại, không ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Vì vậy, trước khi đem màn đến tẩm hóa chất người dân phải giặt màn sạch sẽ và phơi khô trước khi mang màn tới tẩm. Tất cả các loại màn như: tuyn, nylon, sợi bông, màn dân tộc đều tẩm được kể cả màn thủng nhỏ.

Lưu ý, màn đã tẩm hóa chất diệt muỗi sốt rét nên được phơi khô trong bóng mát, không được phơi ngoài nắng. Khi ngủ dậy nên gấp màn bỏ vào túi nylon. Sau 6 - 7 tháng mới được giặt. Vì nếu phơi màn đã tẩm hóa chất diệt muỗi sốt rét ngoài nắng hay giặt thì hóa chất này sẽ bay hết nên không còn tác dụng diệt và xua muỗi nữa.

Ngoài ra màn tẩm hóa chất diệt muỗi sốt rét còn có thể diệt được một số côn trùng gây bệnh như rệp, chấy, rận, gián...

Có rất nhiều phương pháp diệt muỗi sốt rét, trong đó cần thực hiện ăn sạch, ở sạch, ngăn nắp để hạn chế muỗi trú ẩn trong nhà. Thường xuyên vệ sinh môi trường, phát quang cây cỏ quanh nhà (từ 50 - 100m) để tránh nơi muỗi trú đậu rình mồi vào nhà đốt máu người. Xua muỗi bằng biện pháp dùng hương xua muỗi, đốt lá cây xông khói, dùng kem xua muỗi vào buổi tối. Dùng hóa chất diệt muỗi sốt rét phun trên tường để diệt muỗi. Ngủ trong màn tẩm hóa chất diệt muỗi sốt rét để xua và diệt muỗi. Ngoài việc diệt muỗi nếu nghi ngờ cần phải đến cơ sở y tế lấy lam máu xét nghiệm để phát hiện ký sinh trùng sốt rét và điều trị kịp thời.

Khi mắc bệnh sốt rét phải làm gì?Đến cơ sở y tế khám, lấy lam máu xét nghiệm và điều trị kịp thời. Không nên cúng bái tốn tiền bạc vô ích. Điều trị sớm, đúng và đủ liều. Tùy từng trường hợp mà các bác sĩ sẽ điều trị thích hợp như: Điều trị cắt cơn sốt kết hợp với chống lây lan (sốt rét do P.falciparum) và điều trị tiệt căn (sốt rét do P.vivax, P.ovale). Điều trị thuốc sốt rét đặc hiệu kết hợp với điều trị hỗ trợ và nâng cao thể trạng. Các trường hợp sốt rét ác tính phải chuyển về đơn vị hồi sức cấp cứu của bệnh viện từ tuyến huyện trở lên, theo dõi chặt chẽ và hồi sức tích cực.

BS. Lê Thị Thanh

7 loại rau quả mùa hè phòng chống ung thư

Nhiều người cho rằng mùa hè thường có rất nhiều loại rau, hoa quả có tính nóng, ăn nhiều dễ lên mụn nhọt. Nhưng đây cũng là mùa lượng rau quả phong phú, dồi dào, nhất là ở các nước phương Tây nơi chỉ có vài tháng mùa hè. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, rau quả càng có nhiều màu sắc, càng có tác dụng phòng chống bệnh tật, dưới đây là một số loại rau quả mùa hè các chuyên gia dinh dưỡng khuyên chúng ta không nên bỏ qua.

Cà chua

Nhiều nghiên cứu cho thấy, cà chua có khả năng ngăn ngừa hoặc làm giảm nguy cơ ung thư như ung thư tuyến tiền liệt, vú, ruột kết, phổi, và nhiều loại ung thư khác. Sở dĩ nó có tác dụng chống ung thư mạnh như vậy là do trong cà chua có hàm lượng cao hoạt chất lycopene chống oxy hóa.

Theo thống kê của Viện Ung thư quốc gia Mỹ, các nhà khoa học đã tiến hành tới 72 nghiên cứu khác nhau về cà chua và những lợi ích phòng bệnh của cà chua. Các nhà nghiên cứu cũng cho biết, cà chua khi được nấu chín giúp tập trung hàm lượng lycopene nhiều hơn, đây là lý do nên ăn cà chua nấu chín hay làm sốt cà chua tốt hơn nhiều so với ăn cà chua tươi.

Quả bơ

Quả bơ rất tốt cho sức khỏe tim mạch. Trong quả bơ có dầu mono-unsaturated giúp trái tim hoạt động khỏe. Bơ đã được chứng minh là loại quả có khả năng làm tăng cholesterol tốt, giảm cholesterol xấu, giúp bảo vệ thành động mạch. Các nghiên cứu khoa học đã chứng minh bơ là loại quả có tác dụng làm giảm nguy cơ đột quỵ và những người có nguy cơ đau tim. Cả Hiệp hội tiểu đường Mỹ và Hiệp hội Tim mạch Mỹ đều khuyến cáo bệnh nhân nên ăn bơ và dùng bơ như là một phần của chế độ ăn tốt cho tim mạch.

Các loại quả mọng mùa hè

Berry là loại quả mọng, có rất nhiều loại quả thuộc họ berry như quả mâm xôi đỏ (raspberry), quả việt quất (blueberry) , quả dâu tây, mâm xôi... Trong các loại quả mọng này đều có chứa hàm lượng cao các chất phytochemical giúp tăng cường khả năng miễn dịch, chống lại bệnh tật, ngăn ngừa ung thư. Quả mọng cũng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim và cả chứng dị ứng theo mùa.

Nghiên cứu còn cho thấy, quả việt quất có tác dụng rất tốt trong việc làm giảm cholesterol, ngăn ngừa bệnh tim, và làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Riêng đối với bệnh ung thư, việt quất được coi là người bạn đồng hành chống lại bệnh tật. Một nghiên cứu đáng chú ý về quả mâm xôi đen cho biết, loại quả này có tác dụng ức chế sự tăng trưởng của các tế bào ở khối u.

Một loại quả mọng thường gặp nhất là quả dâu tây, đây là loại quả phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, nó có chứa chất fisetin phytochemical rất tốt để ngăn ngừa bệnh mất trí nhớ- Alzheimer.

Dưa chuột

Dưa chuột là một loại quả chứa nhiều nước, tính mát, có tác dụng chống viêm. Đây cũng là loại quả thường được sử dụng để làm đẹp như làm trắng da, giảm bọng mắt sau một đêm mất ngủ, hay thậm chí là để giảm cân. Cũng giống như dâu tây, dưa chuột chứa hàm lượng fisetin có tác dụng ngăn ngừa bệnh Alzheimer và chứng hay quên.

Nho

Nho là một trong những loại trái cây đứng đầu về hàm lượng chất chống lão hóa, giúp ngăn ngừa ung thư và giảm nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến tuổi tác. Đó là do chất resveratrol trong nho giúp giảm cân, ngăn chặn sự tăng trưởng của những tế bào bất thường, đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới nhiều loại ung thư trong đó có ung thư vú.

Một nghiên cứu khác đã chỉ ra, nho còn có khả năng kích hoạt sự tự tiêu hủy của tế bào gây ung thư gan, đây là loại ung thư có tỷ lệ người mắc cũng như tử vong cao, nhất là ở những quốc gia đang phát triển. Các nhà khoa học cho công bố nghiên cứu trên chuột cho thấy nho giúp giảm hơn 85 % nguy cơ gây ung thư tuyến tiền liệt. Những con chuột được ăn một chế độ ăn uống giàu resveratrol có tỷ lệ mắc ung thư tuyến tiền liệt không đáng kể.

Các nhà khoa học cho rằng, trái cây rau quả càng nhiều màu sắc, khả năng chống ung thư và bệnh tật càng cao. Điều này đúng nhưng chưa đủ, có những loại quả không có màu sắc bắt mắt nhưng cũng là những “chiến binh” hàng đầu chống lại ung thư như hành tây và tỏi.

Xoài

Xoài là loại quả ở vùng nhiệt đới, có thành phần dinh dưỡng giàu đồng, kali, magiê, vitamin B - và rất nhiều các hoạt chất phytochemicals như quercetin, astragalin, fisetin methylgallat giúp tăng cường miễn dịch, có tác dụng chống viêm. Nhưng quan trọng nhất là trong xoài có chứa nhiều chất xơ và các enzyme thúc đẩy quá trình tiêu hóa. Cũng giống như cà rốt, xoài có thịt quả màu cam, giàu vitamin A, rất tốt cho mắt.

Đỗ xanh

Đỗ xanh là một trong những thực phẩm đang được khuyến nghị sử dụng trong chế độ ăn có lợi cho sức khỏe. Bởi theo các chuyên gia dinh dưỡng, đỗ xanh giàu chất xơ, sắt, canxi, giàu khoáng chất như silic, mangan và nhiều chất dinh dưỡng không được tìm thấy ở bất cứ loại rau quả nào. Vì thế, ăn đỗ xanh có tác dụng ngăn ngừa bệnh tim, đột quỵ, và tiểu đường. Một nghiên cứu còn cho thấy đỗ xanh giúp làm giảm nguy cơ tích tụ cục máu đông gây ra các bệnh ở hệ tim mạch và não. Ngoài ra đỗ xanh còn chứa các chất chống oxy hóa như kaempferol, có tác dụng chống viêm, chống dị ứng, thậm chí chống vi khuẩn.

Nguyễn Mai Hoàng

(Theo Forbes)

Đối phó dịch bệnh mùa hè

Hiện tại, mặc dù đến thời điểm này chưa bùng phát dịch bệnh nguy hiểm, nhưng các chuyên gia y tế vẫn khuyến cáo người dân không được chủ quan, lơ là trong việc bảo vệ sức khỏe của mình và người thân trước dịch bệnh.

Hôn mê sâu, tiên lượng xấu vì “dính” viêm não mô cầu

Báo cáo của Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế cho biết, từ đầu năm đến nay, cả nước ghi nhận gần 15.000 trường hợp mắc sốt xuất huyết (giảm 37,7% so với cùng kỳ năm 2017), trong đó có 4 ca tử vong tại Bình Dương, Bình Phước, Cà Mau và Khánh Hòa. Ngoài ra, cả nước cũng ghi nhận gần 7.000 trường hợp mắc tay - chân - miệng, 135 trường hợp mắc sởi, 3 trường hợp mắc viêm màng não do não mô cầu. Riêng tại Hà Nội, ghi nhận 81 trường hợp mắc sốt xuất huyết, 234 trường hợp mắc tay - chân - miệng, 61 trường hợp mắc sởi, 2 trường hợp mắc não mô cầu. Đây là những bệnh truyền nhiễm có xu hướng gia tăng trong những ngày hè, nhất là từ tháng 5 đến tháng 8.

Tiêm vắc-xin là biện pháp phòng bệnh hữu hiệu. Ảnh: TM

Tiêm vắc-xin là biện pháp phòng bệnh hữu hiệu. Ảnh: TM

Báo cáo của Sở Y tế Hà Nội cho thấy, nếu như trong tháng 3/2018, toàn thành phố chỉ ghi nhận từ 20- 25 ca mắc tay - chân - miệng/tuần thì đến cuối tháng 4 và đầu tháng 5/2018, số mắc tay - chân - miệng tăng lên từ 50-70 ca/tuần.

Cùng với tay - chân - miệng, bệnh sốt xuất huyết cũng là bệnh có nguy cơ bùng phát mạnh vào dịp hè. Ông Đặng Quang Tấn, Phó Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) cho biết, tại Việt Nam, hằng năm ghi nhận trung bình từ 50.000 đến 100.000 trường hợp mắc và từ 50 đến 100 trường hợp tử vong. Dù 4 tháng đầu năm nay không có địa phương nào ghi nhận số mắc gia tăng đột biến nhưng dịch bệnh vẫn có thể diễn biến phức tạp do nhiều công trình xây dựng, nhà trọ, lán trại và khu tập thể cũ không được quan tâm xử lý... tạo nhiều ổ nước đọng sau mưa, phát sinh các ổ bọ gậy. Bên cạnh đó, khí hậu mùa hè, nhiệt độ trung bình cao là điều kiện thuận lợi cho muỗi vằn truyền bệnh phát triển mạnh…

Cũng theo ông Đặng Quang Tấn, nắng nóng vào mùa hè còn gây ra các bệnh liên quan đến đường hô hấp, đường tiêu hóa. Vì vậy, mỗi người cần tự trang bị cho mình kiến thức, hiểu rõ các bệnh lý thường xảy ra thời điểm này để chủ động việc phòng ngừa...

ThS.BS. Nguyễn Trung Cấp, Trưởng khoa Cấp Cứu, BV Bệnh Nhiệt đới TW cảnh báo thêm về tình trạng từ đầu tháng 4 đến nay có 4 bệnh nhân mắc bệnh viêm màng não mô cầu nhập viện điều trị. Mới đây nhất, ngày 7/5, BV Bệnh nhiệt đới TW cho biết vừa tiếp nhận điều trị một bệnh nhân nữ ở Yên Bái có dấu hiệu sốt cao, hôn mê rất sâu, nhiều vết xuất huyết dưới da do viêm não mô cầu. Theo đó, bệnh nhân Hảng Thị D. (24 tuổi, dân tộc Mông, trú tại tỉnh Yên Bái) vào viện trong tình trạng hôn mê sâu, trên người có nhiều vết ban xuất huyết dưới da. Anh Mùa A Sang (25 tuổi, thôn Trúng Tầu, xã Lằng Nhì, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái) - chồng bệnh nhân cho biết, ngày 2/5, vợ anh có biểu hiện sốt, tiêu chảy, hôn mê... Ngày 3/5, gia đình đưa bệnh nhân vào BVĐK Nghĩa Lộ Yên Bái. Tại BV, các bác sĩ chẩn đoán nghi ngờ bệnh nhân bị viêm não mô cầu và cho chuyển xuống BV Bệnh Nhiệt đới TW.

ThS.BS. Nguyễn Trung Cấp cho biết, kết quả xét nghiệm khẳng định, bệnh nhân bị viêm màng não mủ do viêm não mô cầu với diễn biến cấp tính cho nên dẫn đến tình trạng phù não vô cùng trầm trọng. Hiện nay, bệnh nhân hôn mê rất sâu, mất phản xạ, tiên lượng cực kỳ xấu, nguy cơ tử vong cao.

Tiêm vắc-xin - chủ động bảo vệ sức khỏe trước dịch bệnh

Theo các chuyên gia y tế, mặc dù đến thời điểm này chưa bùng phát dịch bệnh nguy hiểm. Tuy nhiên, tại Hội nghị triển khai công tác phòng chống dịch bệnh năm 2018 mới đây, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long đã nhắc lại bài học từ vụ dịch sốt xuất huyết vào mùa hè năm 2017 tại Hà Nội, khiến chúng ta không thể chủ quan trong công tác phòng chống dịch bệnh, bởi thời tiết nắng nóng ngày hè tạo điều kiện cho virut, vi khuẩn, nấm mốc gây bệnh phát triển. Đối tượng dễ mắc bệnh nhất là những người có sức đề kháng kém như người già và trẻ nhỏ.

Để phòng bệnh, Bộ Y tế đề nghị các địa phương và mỗi người dân cần triển khai các biện pháp vệ sinh môi trường, chủ động phòng chống dịch bệnh, như diệt muỗi, bọ gậy, ngủ màn, khử khuẩn phòng bệnh tay - chân - miệng, đặc biệt lưu ý các nhà trẻ, mẫu giáo...

Với những bệnh đã có vắc-xin phòng bệnh thì người dân cần tuân thủ việc tiêm phòng đầy đủ. Bên cạnh đó, khi mắc bệnh phải bảo đảm việc cách ly để phòng lây cho người khác. Dùng các thuốc bác sĩ chỉ định để chữa triệu chứng. Một chế độ ăn đủ dinh dưỡng cũng giúp cơ thể tăng sức đề kháng, phòng chống bệnh.

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Long nhấn mạnh, đối với một số dịch bệnh thường xảy ra vào mùa hè cần có những đánh giá, dự báo tình hình chính xác nhất nhằm đưa ra biện pháp phòng chống kịp thời. Do đó, Cục Y tế dự phòng, Chương trình Tiêm chủng mở rộng Quốc gia bảo đảm phủ vắc-xin với cả trẻ em và người lớn, đặc biệt tập trung cho các bà mẹ trong tuổi sinh đẻ.

Thái Bình

Cách phát hiện trẻ bị viêm VA

Viêm VA là bệnh lý đường hô hấp hay gặp ở trẻ nhỏ, bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nhưng thường xuyên tái phát và gây ra nhiều biến chứng...